Bài viết / Artikler

 


Ngày 09.09.2018

Đôi Suy Tư Mục Vụ

Từ Tông Huấn Hậu Thượng Hội Đồng

Amoris Laetitia – Niềm Vui Yêu Thương

Lm. Paulus Ý

Đức Thánh Cha Phanxicô ngay từ khi bắt đầu sứ vụ mục tử toàn cầu đã khẳng định phong thái riêng của mình bằng những bài giảng cũng như các tài liệu giáo huấn rất ngắn gọn và súc tích. Nhưng khi dẫn nhập Amoris Laetitia (AL),[1] “kết quả phong phú của tiến trình hai năm làm việc của Thượng Hội Đồng”(AL 7),[2] Đức Thánh Cha đã báo trước “độ dài không thể tránh được của nó” (AL 7),[3] và do đó Ngài “không khuyên nên đọc bản văn này cách vội vã” (AL 7). Để giúp mọi người đọc và hiểu tài liệu quan trọng này, Đức Thánh Cha đã đưa ra hướng dẫn cụ thể:

Đối với chính các gia đình và những ai dấn thân vào việc tông đồ gia đình, lợi ích lớn lao nhất sẽ xuất hiện nếu mỗi phần được đọc một cách kiên nhẫn và thận trọng hoặc nếu chú ý tới các phần nói tới các nhu cầu chuyên biệt của họ. Thí dụ, các cặp vợ chồng có lẽ sẽ quan tâm nhiều hơn tới các chương bốn và năm, còn các thừa tác viên mục vụ có lẽ sẽ quan tâm nhiều hơn tới chương sáu… (AL 7 – Nhấn mạnh được thêm vào)

Theo định hướng mục vụ này của Đức Thánh Cha, chương sáu liên quan đặc biệt đến các linh mục là thừa tác viên cho đời sống hôn nhân và gia đình. Có thể nói được chương này phản ảnh các cảm nghiệm và trăn trở mục vụ của chính Đức Thánh Cha và của các Nghị Phụ về gia đình trong xã hội hiện đại. Thực vậy, trong chương sáu Đức Thánh Cha đã dùng các ý kiến và đề nghị (proposals) của các Nghị Phụ được đúc kết lại trong Báo Cáo Tổng Kết (Final Reports) từ hai Thượng Hội Đồng 2014 và 2015 để chuyển tải một số câu trả lời cho các vấn nạn cũng như cung cấp những hỗ trợ cần thiết để vượt qua những thách đố các mục tử gặp phải trong công việc mục vụ gia đình. Trong chiều kích của bài viết này, chúng ta không đào sâu hết mọi vấn đề được nêu lên nhưng sẽ cố gắng để dừng lại ở một số điểm nhấn mạnh của Đức Thánh Cha cũng như của Thượng Hội Đồng. Bài viết này, như vậy, sẽ giới hạn trong ba chủ đề chính của chương sáu – khả năng của các mục tử khi tiếp cận với đời sống gia đình, việc chuẩn bị tiền hôn nhân trong thế giới hiện đại và đồng hành với các gia đình trong suốt hành trình của cuộc sống chung. Để giúp có một cái nhìn nối kết giữa Amoris Laetitia và con đường canh tân mục vụ Công Đồng Vatican đã mở ra cho Giáo Hội cách đây 50 năm, những trích dẫn cần thiết từ các văn kiện liên quan của Công Đồng Vatican II sẽ được đưa vào phần chú thích (footnotes) để tham khảo; và cuối cùng để giúp gợi ý cho những suy tư và trao đổi, một số câu hỏi về các chủ đề liên quan sẽ được đưa vào ở cuối bài viết.

[1] Để ngắn gọn xin dùng hai chữ đầu của Amoris Laetitia (AL) trước các số thứ tự của văn kiện trong các trích dẫn.

[2] Bản dịch tiếng Việt trên trang Thông Tin của Giáo Phận Qui Nhơn sẽ được dùng để trích dẫn, nhưng khi cần làm rõ nghĩa hay nhấn mạnh, sẽ đối chiếu và sửa đổi theo bản văn chính thức đăng trên webside của Toà Thánh: http://w2.vatican.va/content/francesco/en/apost_exhortations/documents/papa-francesco_esortazione-ap_20160319_amoris-laetitia.html

[3] Amoris Laetitia dài 9 chương với 325 số. Đây là tài liệu giáo huấn dài nhất tính đến nay của triều đại Giáo Hoàng Phanxicô, sánh với ba tài liệu giáo huấn lớn khác: Lumen Fidei (Thông Điệp Hậu Thượng Hội Đồng Năm Thánh Đức Tin 2013) 4 chương 60 số, Tông Huấn Evangelii Gaudium 5 chương 288 số, và Thông Điệp Laudo Si’ với 6 chương 246 số. 

Xem tiếp>>

 


Ngày: 24.06.2018

 «Con mang Ngài theo con suốt ngày đêm»: Linh Đạo Thánh Thể của Đức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận

Đấng Đáng Kính Hồng Y Phanxico-Xavier Nguyễn Văn Thuận cống hiến cho toàn thể Giáo Hội một linh đạo Thánh Thể và Thánh Mẫu sáng ngời, hoa trái của của một kinh nghiệm sâu sắc và huyền bí nơi lao tù. Bị bắt ngày 15 tháng 8 năm 1975 – Lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời, ngài bị giam giữ suốt 13 năm, với 9 năm biệt giam, cho đến khi được trả tự do ngày 21 tháng 11 năm 1988 – Lễ Đức Mẹ Dâng Mình Trong Đền Thờ. Đối với ngài, hai lễ kính Đức Trinh Nữ Maria đã đánh dấu và chiếu dọi một . nghĩa sâu sắc trên toàn thể giai đoạn bi thảm này của cuộc đời ngài. Thật vậy, cùng với Mẹ Maria, Đức Hồng Y Thuận đã sống một kinh nghiệm thần bí lấy Thánh Thể làm trung tâm điểm, cùng với mọi chiều kích hy tế, hiệp thông, hiện diện và thờ lạy của Bí Tích này.

Lời nguyện viết trong tù

Sau một năm gian khổ nơi lao tù, ngày 7 tháng 10 năm 1976, Hồng Y Thuận viết một bài cầu nguyện tuyệt vời tóm gọn linh đạo Thánh Thể của ngài:

Lạy Chúa Giêsu chí ái,
Đêm nay, từ chốn thẳm sâu của căn phòng nơi con bị giam giữ, tăm tối, không cửa sổ, buốt lạnh, con hồi tưởng lại quảng đời mục vụ đã qua của con.
Tám năm làm Giám Mục cũng tại nơi địa phương này, chổ con ở chỉ cách nhà tù của con hai cây số, trên cùng một con phố, trên cùng một bãi biển…
Con nghe tiếng sóng của biển Thái Bình, tiếng chuông của nhà thờ Chánh Toà.
Đã có lần con dâng lễ với dĩa thánh và chén thánh nạm vàng, giờ đây Máu của Ngài nằm trong chính trong lòng bàn tay con.
Đã có lần con đi chu du khắp thế giới để tham dự các hội nghị gặp gỡ, giờ đây con bị giam nhốt trong xà lim chật chội không một cửa sổ.
Đã có lần con đến viếng chầu Ngài nơi Nhà Tạm, giờ đây con mang Ngài ngày đêm trong túi áo của con.
Đã có lần con cử hành Thánh Lễ trước cả hàng ngàn tín hữu, giờ đây con rước lễ dưới bóng đêm âm thầm trong chiếc mùng ngủ của con.
Đã có lần con chủ sự chầu Thánh Thể trọng thể nơi nhà thờ Chánh Toà, giờ đây con chầu Thánh Thể mỗi đêm vào lúc 21 giờ, trong thinh lặng, hát thầm kinh Tantum Ergo, Salve Regina, và kết thúc bằng lời nguyện này:
«Lạy Chúa, bây giờ con vui lòng chấp nhận mọi thứ từ tay Ngài: Tất cả mọi muộn phiền, tất cả mọi khổ đau, lo âu, ngay cả cái chết của con. Amen».

Nhiều linh mục thánh cũng đã cử hành Thánh Lễ trong những trạng huống cực kỳ thống khổ giống như vậy, nơi các trại tập trung của Phát-xít hay Cộng Sản. Hồng Y Thuận sống Thánh Thể như Bí Tích của kenosis, của mầu nhiệm Tự Huỷ nơi Đức Kitô, qua sự nghèo nàn và quên mình tuyệt đối, từ máng cỏ Bêlem cho đến Thập Giá trên đồi Calvê. Chiều kích tinh tu. và đỉnh cao của linh đạo Thánh Thể của ngài nằm trong việc ngài luôn mang trong người Mình Thánh Chúa. Chính trong lời nguyện này của ngài chúng ta tìm thấy cách diễn đạt mà tôi đã chọn làm chủ đề cho bài chia sẻ của tôi: Con mang Ngài theo con suốt ngày đêm! Mang theo mình Chúa Giêsu Thánh Thể

Là linh mục và giám mục Đức Hồng Y Thuận sống điều này, nhưng trong chính cùng thời kỳ bách hại đó, các tín hữu nhiệt thành cũng đã chia sẻ cùng một kinh nghiệm. Thực vậy, các giám mục Việt Nam đã ban phép cho các giáo dân, cả nam lẫn nữ, được mang trong người Mình Thánh Chúa để có thể cho rước lễ ở những nơi các linh mục không thể đến được. Điều ngày cũng đã xảy ra trong thời kỳ Cách Mạng Pháp (năm 1789).

Sự kiện ngài mang trong người Mình Thánh Chúa cũng đã đánh động Đức Tổng Giám Mục Huế, người trong bản báo cáo gởi về Roma năm 1978 đã viết rằng Đức Cha Thuận «có thói quen là sau khi cử hành Thánh Lễ giữ lại trong người một chút bánh thánh nhỏ».

Đồng thời ngài cũng đã sống những khoảnh khắc đau khổ tột cùng với Đức Giêsu trong vườn Cây Dầu. Theo như chứng từ của người em gái của ngài, «nhìn thấy sự đau khổ của các bạn tù cũng như của chính ngài, ngài xác quyết rằng chỉ có sự hiện diện của Chúa Giêsu Thánh Thể mới có thể trao ban ý nghĩa và sức mạnh cho cảnh trạng này của cuộc sống».

Đức Hồng Y Thuận không ngại chia sẻ con đường tu đức Thánh Thể của ngài cho những người khác. Đây là chứng từ của một linh mục khác, Giám Đốc Chủng Viện Giáo Phận, cùng ở tù với ngài và đã giảng tĩnh tâm trong tù cho ngài:

Như dấu chỉ của niềm hy vọng, ngài làm cho tôi một món quà khác thật quí giá, đó là với vỏ một chiếc lon, ngài đã làm một chiếc nhẫn tặng cho tôi và hỏi tôi có biết là cái gì không; tôi đã trả lời đó là một món đồ chơi, nhưng ngài giải thích đây là chiếc nhẫn, trong đó ngài có giấu một mẫu Bánh Thánh nhỏ để tôi có thể luôn mang theo mình Chúa Giêsu Thánh Thể. Tôi cảm nghiệm điều này rất đặc biệt, và tôi vẫn luôn cảm động khi biết rằng ngài đã làm điều đó cho tôi.

Với «món qùa thật quí giá» này, Đức Cha đã trao tặng người anh em linh mục của mình một «Tiểu Nhà Tạm» để mang theo mình, chia sẻ cho ông ta chiều kích mạnh mẽ và can đảm nhất trong Linh Đạo Thánh Thể của ngài.

Sau này, khi được thả, Đức Hồng Y Thuận thường làm chứng về cảm nghiệm Thánh Thể mạnh mẽ nơi lao tù. Ngài đã cống hiến một tổng hợp thật đẹp trong cuốn Năm Chiếc Bánh và Hai Con Cá, xuất bản bằng tiếng Ý năm 1997. Chương IV có tựa đề: Chiếc Bánh Thứ Tư: Sức Mạnh Duy Nhất của Tôi – Bí Tích Thánh Thể..

«Sức mạnh duy nhất của tôi: Bí Tích Thánh Thể»

Đức Hồng Y Thuận đã thường kể lại là ngay những ngày đầu của đời sống tù tội ngài đã có một ít rượu trong một chai «thuốc chống đau dạ dày» và một ít bánh lễ xé nhỏ bỏ trong một cái lọ chống ẩm. Nhờ đó ngài đã có thể dâng Thánh Lễ mỗi ngày với ba giọt rượu trong lòng bàn tay này và một mẫu bánh thánh nhỏ trong bàn tay kia. Ngài đã cử hành Thánh Lễ một mình đơn độc trong thời gian bị biệt giam. Những giai đoạn khác ngài đã dâng lễ cho các anh em bạn tù, ngay cả trong những điều kiện tồi tệ đáng thương và bẩn thỉu nhất, như trên chiếc tàu chở ngài và hàng ngàn tù nhân khác từ Nam ra Bắc, rồi nơi trại tập trung cải tạo. Thánh Lễ được cử hành trong sự túng quẩn cùng cực, tức trong chính kenosis (sự từ bỏ tuyệt đối của Đức Kitô); và cũng như vậy đối với việc gìn giữ Mình Thánh trong những dụng cụ và nhà tạm rất khiêm tốn, được ngài trao tay cho các tù nhân Công Giáo, trong khi ngài luôn mang Bánh Thánh trong người của ngài:

Chúng tôi nhặt giấy nylon bọc bao thuốc hút để làm những túi nhỏ đựng Mình Thánh. Như thế Chúa Giêsu luôn ở giữa chúng tôi. Chúng tôi tin một sức mạnh: Thánh Thể. Thịt Máu Chúa làm cho chúng tôi sống, “Ta đã đến là để chúng được có sự sống, và có một cách dồi dào” (Ga 10, 10). Như manna nuôi dân Do Thái đi đường về Đất hứa, Thánh Thể sẽ nuôi con đi cùng đường Hy vọng (Ga 6, 53).

Mỗi tuần,sáng thứ Sáu có một buổi học tập, tất cả 250 anh em phải tham dự. Đến lúc xả hơi, các bạn Công giáo thừa dịp đó mang các túi nylon đựng Mình Thánh đến chia cho bốn đội kia, mỗi người thay nhau mang trong túi áo một ngày.

Ai cũng biết có Chúa Giêsu Thánh Thể đang ở giữa trại tù với họ. Chính Ngài an ủi, xoa dịu những khổ đau thể xác và tinh thần; chính Ngài thêm can đảm chịu đựng cho họ. Ban đêm, họ thay phiên nhau làm giờ thánh. Sự hiện diện thinh lặng của phép Thánh Thể biến đổi họ cách lạ lùng. Nhiều người Công giáo trở lại sống đạo đức hơn; nhiều anh em không Công giáo, Phật giáo tìm hiểu Phúc âm và lãnh phép Thánh tẩy trong trại cải tạo, hoặc sau lúc được tự do. Không có gì cưỡng lại được tình yêu Chúa Giêsu. Đêm tối của ngục tù trở thành ánh sáng, hạt giống đã đâm chồi dưới đất đang lúc trời giông tố phong ba. Những ơn trọng này do Chúa Giêsu Thánh Thể chứ không phải do sức loài người.

Mỗi lúc dâng lễ, đọc lời truyền phép, với tất cả tâm hồn, tôi làm lại lời “giao ước mới, giao ước vĩnh cửu” với Chúa Giêsu. Không phải để sống an nhàn, nhưng để bắt đầu một cuộc cách mạng, đổi mới nhân loại, được máu Chúa cứu chuộc, sống xứng đáng phẩm giá con Thiên Chúa, trong văn hóa của tình thương và sự sống. Trong Thánh Thể chúng tôi loan truyền sự chết của Chúa Giêsu và tuyên xưng sự sống lại của Ngài.

Trong bản văn này, đặc biệt hướng đến cho các Linh Mục, mọi chiều kích của Mầu NhiệmThánh Thể được trình bày, như Hiến Lễ của Giao Ước Mới, được linh mục cử hành trong Persona Christi (trong chính con người Đức Kitô), đồng nhất một cách huyền nhiệm với Ngài, cùng với sự xác tín mạnh mẽ về sự Hiện Diện Thật Sự và vĩnh cửu của Đức Giêsu nơi Mình Thánh. Nơi đây, Đức Hồng Y Thuận nói đến Thánh Lễ được cử hành cho các tù nhân khác mà ngài đã cho rước lễ để trao chuyển cho họ sự hiện diện của Bí Tích Cực Thánh.

Sau này, ngài kể lại cách thế ngài sống Thánh Thể mỗi ngày khi ngài phải hoàn toàn cô đơn một mình, ghi nhớ việc ngài luôn mang theo mình Bánh Thánh:

Đó là những thánh lễ đẹp nhất của đời tôi. Kinh Lauda Sion, Pange Lingua, Adoro Te, Te Deum và nhiều kinh Việt ngữ, mặc cho tiếng loa trước cửa từ 5 giờ sáng đến 11 giờ rưỡi đêm. Tôi cảm nghiệm cách đặc biệt một sự bình an, một niềm vui trong tâm hồn vì Chúa Giêsu, Đức Mẹ và thánh Giuse ở với tôi. Tôi hát Salve Regina, Salve Mater, Regina Coeli, v.v… hiệp với toàn thể Hội thánh. Mặc cho Hội thánh bị vu cáo, chống đối, tôi hát “Này con là đá… Ta hãy nguyện xin cho Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô”…

Chúa Giêsu đã nuôi dưỡng dân chúng theo Người trên sa mạc; trong phép Thánh Thể Chúa Giêsu tiếp tục làm của ăn ban sự sống muôn đời.

Có lúc buồn nản vô cùng, tôi nhìn lên Chúa Giêsu chịu đóng đinh và bị bỏ rơi trên Thánh giá: Ngài không giảng dạy, thăm viếng, chữa lành bệnh tật; Ngài hoàn toàn bất động. Đối với con mắt loài người, cuộc đời Chúa Giêsu là vô ích, là thất bại. Nhưng đối với đôi mắt Thiên Chúa, chính giây phút ấy lại là giây phút quan trọng nhất của đời Ngài, vì trên Thánh giá Ngài đã đổ máu mình để cứu chuộc nhân loại.

Tất cả những điều này mang một tính cách thần học sâu sắc và hết sức quan trọng để xác định giá trị của Thánh Lễ được linh mục cử hành một mình, khi sự tham dự của giáo dân là bất khả thể. Chính thời điểm đó, Đức Giáo Hoàng Phaolo VI cũng đã vất vả trong những năm khủng hoảng đức tin để khẳng định chân lý này. Trong sự cô lập hoàn toàn của mình, người linh mục tù nhân vẫn có thể chu toàn bổn phận cao qu. và hiệu quả nhất của mình khi ông cử hành Thánh Lễ. Ngài trở nên một với Đấng Cứu Thế Chịu Đóng Đinh, trong sự hiệp thông với toàn thể Giáo Hội thiên đàng và trần thế.

Chúa Giêsu Thánh Thể chiếu toả Tình Yêu của Ngài trên mọi người, cả bạn hữu lẫn địch thù

Trong cuộc đời của Đức Hồng Y Thuận chúng ta nhìn thấy sự hiện diện liên tục của Đức Giêsu Thánh Thể đã chiếu toả tình yêu thế nào trên mọi người: cả bạn hữu và kẻ thù, các tù nhân Công Giáo cũng như công an Cộng Sản. Thánh Thể là Bí Tích Tình Yêu tuyệt vời của Đức Giêsu kết hợp chúng ta với Ngài và với tất cả anh chị em, bí tích của sự Hiệp Nhất trong Đức Giêsu Kitô. Chứng tá của Đức Hồng Y Thuận về điểm này rất mạnh mẽ. Sự tiếp xúc liên tục với Đức Giêsu Thánh Thể mà ngài luôn mang theo mình, ban cho ngài nghị lực của môt tình yêu phi thường đối với kẻ thù, thường đưa đến việc biến họ thành bạn hữu. Đó là một sự chọn lựa tự do và tận căn của ngài: «Tôi đã quyết tâm yêu thương họ».

Đức Hồng Y Thuận đã muốn trở thành «khí cụ của tình yêu Đức Giêsu», sống chiều kích sâu sắc nhất con đường tu đức của sự hiệp nhất mà người Tôi Tớ Chúa, chị Chiara Lubich đã chia sẻ với nhóm Công Cuộc của Đức Maria (l’Opera di Maria), tức Phong Trào Focolare. Đức Hồng Y đã quen biết và chấp nhận linh đạo này khi ngài du học tại Roma và đã mang linh đạo này về giáo phận của ngài, đặc biệt phát triển chiều kích Thánh Thể và Thánh Mẫu của con đường tu đức này. Giữa ngài và chị Chiara có một sự hiệp thông thiêng liêng sâu sắc. Chính chị Chiara đã đến bện viện để thăm ngài chỉ vài phút trước khi ngài tắt thở.

Trong căn bệnh cuối cùng

Trong căn bệnh cuối đời và đau đớn cùng cực, Thánh Thể mỗi ngày vẫn là trung tâm của cuộc sống ngài. Một chứng nhân đã nói về điều này:

Ngài đã kể cho tôi là có những đêm không ngủ được, lúc đó ngài không thấy có gì tốt hơn là đi vào nhà nguyện riêng để cầu nguyện và rồi cử hành Thánh Lễ cầu nguyện cho các linh mục đang gặp khó khăn.

Đó là Thánh Lễ được cử hành trong sự cô quạnh, giống như trong thời kỳ ngài bị biệt giam. Rồi sau đó ngài phải nhập viện, trước ở Milano sau ở Roma, ngài luôn cử hành Thánh Lễ mỗi ngày.

«Verum Corpus natum de Maria Virgine – Thân xác đích thực được sinh ra bởi Đức Maria Đồng Trinh»

Cùng với Chúa Giêsu, Mẹ Maria luôn luôn hiện diện rõ ràng trong suốt cuộc đời Đức Hồng Y Thuận, từ khi sinh ra cho đến khi lìa đời. Về điều này ngài đã để lại một chứng ngôn tuyệt đẹp vào năm 1999 tại Cologne khi nói chuyện trước một hội nghị các linh mục, trình bày cách thế nào Đức Maria luôn giữ vị trí trung tâm nơi linh đạo Thánh Thể và Linh Mục, qui chiếu về kinh nghiệm ngục tù của ngài:

Như một đứa con của Mẹ Maria, đặc biệt trong Thánh Lễ, khi đọc lời truyền phép, tôi đồng hoá mình với Đức Giêsu, in persona Christi, trong con người Đức Kitô. Khi tôi tự hỏi Đức Maria là ai trong sự chọn lựa tuyệt đối của tôi cho Đức Giêsu, câu trả lời rất rõ ràng: trên thập giá Đức Giêsu đã nói với thánh Gioan: «Đây là mẹ con» (Gio 19:27). Sau khi lập phép Thánh Thể, Chúa đã không còn có thể để lại điều gì quí hơn là chính người Mẹ của Ngài. Đối với tôi, Đức Maria chính là cuốn Phúc Âm sống, trong kích thước bỏ túi, nhưng mang tầm cở vĩ đại nhất, gần gũi với tôi hơn đời sống tất cả các vị thánh khác. Maria là mẹ của tôi: Giêsu trao tặng người mẹ cho tôi. Phản ứng đầu tiên khi một đứa bé bị đau hay sợ hải là kêu lên «mamma». Tiếng kêu này đối với một em bé là tất cả. Maria đã sốngtrọn vẹn và tuyệt đối cho Giêsu.

Trong giai đoạn gian khổ nhất của năm tháng biệt giam, ngài đã viết một lời nguyện thánh hiến, trao trọn vẹn chính mình cho Đức Giêsu qua trung gian Mẹ Maria:

Con xin dâng mình cho Mẹ.
Tất cả cho Mẹ.
Hôm nay và mãi mãi đến muôn đời.
Con sống tinh thần của Chúa Giêsu, khi sống tinh thần Maria và Giuse.
Với Chúa Giêsu, thánh Giuse, các thiên thần, các thánh và tất cả các linh hồn.
Con yêu mến Mẹ, Mẹ chúng con, và con xin chia sẻ, công việc của Mẹ, nỗi thao thức của Mẹ,
Cuộc chiến đấu của Mẹ vì nước Chúa Giêsu. Amen.

Đó chính là sự thánh hiến của Thánh Louis Marie Grignion de Montfort, được Đức Gioan Phaolô II sống và tóm gọn trong khẩu hiệu Totus Tuus (Tất Cả Là Của Mẹ) của ngài. Cuốn Thành Thực Sùng Kính Mẹ Maria (Traité de la Vraie Dévotion à la Sainte Vierge) của Thánh Monfort đã có cùng một ảnh hưởng trên cuộc đời của Karol Wojtyla cũng như của Van Thuân, lấy Thánh Thể làm đích điểm, bằng cách sống tròn đầy sự hiệp thông thánh thiện với Đức Maria và trong Đức Maria.

Trong một cách thế tuyệt vời, Đức Hồng Y Văn Thuận mời gọi chúng ta khám phá lại chiều kích trung tâm của Thánh Thể trong đời sống Giáo Hội Lữ Hành, sự hiện diện của Đức Giêsu Tử Nạn và Phục Sinh, Đấng Emmanuel, «Thiên Chúa ở cùng chúng tôi», cho đến ngày cùng tận của thế giới.

http://gpquinhon.org/q/than-hoc/con-mang-ngai-theo-con-suot-ngay-dem-linh-dao-thanh-the-cua-duc-hong-y-nguyen-van-thuan-1159.html


 

  Đấng Đáng Kính Nguyễn Văn Thuận: Nhà thần học và bậc thầy của niềm hy vọng Kitô giáo

Lịch sử, kinh nghiệm sống (Erlebnis – sự kinh qua) của Đấng Đáng Kính Văn Thuận được quyết định trong cách thế ngài đón nhận ân sủng siêu nhiên của đức cậy và sống nhân đức này mỗi ngày, từ những năm khổ đau trong tù tội cho đến những tháng cuối cùng trên giường bệnh. Một số phát biểu của ngài về niềm hy vọng có thể đã phát xuất từ khẩu hiệu được chọn lựa cho sự vụ giám mục. Trong trường hợp này chúng ta rất dễ quên rằng chúng xuất phát từ trái tim trước khi ngang qua lý trí, rằng tất cả đã được kinh qua, có nghĩa đã được «thử thách», bởi vì «nhân đức được thử thách làm nảy sinh hy vọng» (Rm 5:4), cho dẫu rằng các điều kiện ngoại tại và vật chất, như tù ngục và bệnh tật, tất cả đều nói lên những gì hoàn toàn trái ngược với niềm hy vọng ngài gìn giữ và trân quí. Chính lex vivendi (luật sống, cách thế sống) đã thiếp lập lex credendi (luật tin, cách thế tin).Trong tập sách Hy vọng không chán nãn (La speranza non delude) xuất bản năm 1997, nhưng được viết trong tù như lá thư thay lời tựa thuật lại, phụ đề của tập sách giải thích: dưới ánh sáng của Kinh Thánh và Giáo Huấn Công Đồng. Qua lá thư thay lời tựa này chúng ta được biết về bối cảnh trong đó các suy tư được thành hình, một «giai đoạn khó khăn, đen tối vô tận», trong một «đêm ngập tràn thinh lặng và cô đơn», «tôi không còn một thứ gì cả», người tù giám mục thốt lên. Tuy nhiên người tù cũng giải thích là chính nơi đây «Thiên Chúa đã ban cho tôi những giờ phút tuyệt vời nhất trong cả cuộc đời… chưa bao giờ lời cầu nguyện thiết tha đến như thế, chưa từng có Thánh Lễ nào sốt sắng hơn, chưa từng có cơ hội nào thuận tiện hơn để tôi kết hợp với tình yêu của Thiên Chúa, để tôi chiếu toả tình yêu giữa nơi thù hận và gieo niềm hy vọng giữa sự thất vọng ê chề». Như thế, trước hết, đây chính là sự trình bày kinh nghiệm của niềm hy vọng (đức cậy) như là một hồng ân, một nhân đức đối thần. Tuy nhiên, ngay lập tức để cung cấp chìa khoá giúp giải nghĩa ân huệ được sống (đây là thần học) ngài viết: «Hãy đọc các suy nghĩ sâu kín của tôi dưới ánh sáng của Lời Chúa và của Công Đồng». Với viễn cảnh có thể chết hay bị giết ở trong tù, ngài nhớ lại: «Theo gương Đức Phaolo VI, đây là lời trối của tôi: «Chương trình hành sự của tôi là thực thi Công Đồng Vatican II». Rồi đổi từ vai trò của một thần học gia đến vai trò của một thầy dạy, ngài mời gọi «những người con chí ái» thúc dục họ «phấn đấu để thắp lên ngọn lửa hy vọng nơi các con sống», rồi ngài kết thúc lá thư: «Xin Chúa Giêsu, Mẹ Maria và Thánh Cả Giuse củng cố các con trong từng bước con đi trên con đường hy vọng». 

http://gpquinhon.org/q/than-hoc/dang-dang-kinh-nguyen-van-thuan-nha-than-hoc-va-bac-thay-cua-niem-hy-vong-kito-giao-1155.html